Text Size

Tinh thần luật doanh nghiệp còn không

Thành quả lớn nhất mà Luật Doanh nghiệp 1999 và Luật Doanh nghiệp 2005 mang lại là tạo ra bước đột phá về tư duy, từ tư duy cơ chế xin-cho sang tư duy tôn trọng và bảo đảm thực hiện quyền tự do kinh doanh của người dân. Thế nhưng, theo các chuyên gia, đang có những xu hướng đáng lo ngại khiến cho thành quả mang tính nền tảng ấy bị “lung lay”.

Nhiều rào cản mới 

Bao trùm trên hết, theo TS. Nguyễn Đình Cung, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, là xu hướng can thiệp vào thị trường của Nhà nước nhằm kiểm soát nền kinh tế nổi lên trong vài năm trở lại đây. Mật độ can thiệp ngày càng dày đặc, rộng khắp với việc đưa hàng loạt mặt hàng, lĩnh vực vào diện bị kiểm soát giá như sữa, thuốc, lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc, xi măng, vàng... Trong bối cảnh như vậy, quá trình tự do hóa thị trường nói chung và quyền tự do kinh doanh nói riêng tất yếu cũng phải bị ảnh hưởng.

Bà Phạm Chi Lan, chuyên viên kinh tế, cũng cho rằng so với thời kỳ Luật Doanh nghiệp 1999 và Luật Doanh nghiệp 2005 mới ra đời thì những năm gần đây “tinh thần Luật Doanh nghiệp” có vẻ đang chùn xuống. Người ta không còn cảm nhận được không khí cải cách, đổi mới vì một môi trường thuận lợi cho kinh doanh như ngày trước. “Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập vẫn tiếp tục tăng, kể cả sáu tháng đầu năm nay nhưng con số đó vẫn không thể bù đắp nổi một thực tế đáng lo ngại hiện nay”.

Theo bà Lan, nếu như trước đây hầu hết các bộ ngành, địa phương đều sẵn sàng cải cách để tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh theo hướng thông thoáng thì bây giờ những tiếng nói như thế đang trở nên ít đi. Trong khi đó, nhiều rào cản kinh doanh mới lại được âm thầm dựng lên thông qua việc áp dụng các biện pháp hành chính, các điều kiện kinh doanh, các giấy phép con...  Một ví dụ minh chứng là năm 2001, có hơn 150 giấy phép con đã từng được bãi bỏ. Tuy nhiên, thời gian gần đây hàng loạt giấy phép con vẫn tiếp tục ra đời bất chấp một số lượng nhất định thủ tục hành chính được cắt giảm theo Đề án 30 của Chính phủ. 

Theo TS. Nguyễn Quốc Vinh, Công ty Luật Tilleke & Gibbins, để tránh làm tổn thương đến quyền tự do kinh doanh, pháp luật của nhiều quốc gia chỉ cho phép đặt ra điều kiện kinh doanh trong trường hợp nhằm bảo vệ lợi ích công cộng. Còn ở ta thì có lúc mục đích là để dễ quản lý, có lúc lại mù mờ, không rõ nhằm bảo vệ ai. Rút cuộc doanh nghiệp phải gánh chịu thiệt hại.

Hàng loạt quy định gây nên những ách tắc không đáng có vừa qua như quy định về vốn điều lệ; chào bán cổ phần riêng lẻ... là những ví dụ cụ thể. Ngoài ra, trong thực tế doanh nghiệp còn bị áp đặt bởi những điều kiện, rào cản thiếu minh bạch do các cơ quan cấp phép hoặc các bộ, ngành tự đặt ra.

Ví dụ gần đây nhất là việc một số cơ quan đăng ký kinh doanh địa phương yêu cầu phải thực hiện thủ tục đầu tư khi thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh đối với doanh nghiệp có “yếu tố nước ngoài” hoặc Bộ Kế hoạch và Đầu tư yêu cầu ghi và mã hóa ngành, nghề theo danh mục ngành, nghề cấp bốn khi thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh.

Ông Trần Hữu Huỳnh, Trưởng ban pháp chế kiêm Phó tổng thư ký VCCI, cũng thừa nhận trong quá trình xây dựng các điều kiện kinh doanh, hầu hết các cơ quan soạn thảo vẫn chưa thực hiện tốt việc đánh giá tác động pháp luật; việc giải trình mục tiêu bảo vệ lợi ích công cộng vẫn còn quá “trừu tượng”, “chung chung”. Đặc biệt, theo ông, vẫn chưa xây dựng được một bộ máy công chức thân thiện để có thể thực thi Luật Doanh nghiệp một cách hiệu quả hơn.

Chồng lấn

Sự chồng lấn của một số luật chuyên ngành với Luật Doanh nghiệp, theo luật gia Cao Bá Khoát, Giám đốc Công ty Tư vấn KAC, cũng đang gây ra nhiều hệ quả làm tổn hại đến quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp. Theo ông, chức năng của Luật Doanh nghiệp là để khai sinh và tổ chức bộ máy hoạt động của doanh nghiệp. Thế nhưng, nhiều văn bản luật lại tìm cách lấn sân sang chức năng ấy của Luật Doanh nghiệp, tạo nên những thủ tục hết sức phức tạp, lòng vòng trong đầu tư kinh doanh.

Ví dụ, Luật Đầu tư quy định: giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Hoặc theo luật về kinh doanh bảo hiểm, Bộ Tài chính cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì trao quyền cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cấp giấy phép đối với hoạt động dịch vụ xuất khẩu lao động; Luật Chứng khoán thì Ủy ban Chứng khoán cấp phép thành lập và hoạt động đối với công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán...

“Một doanh nghiệp chỉ được “đẻ” và khai sinh một lần bằng giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Nay lại cấp thêm giấy giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nữa nghĩa là sao?”. Ông Khoát gọi đây là hiện tượng “gặm nhấm” Luật Doanh nghiệp bởi các văn bản luật chuyên ngành. Tình trạng gặm nhấm này không những làm cho thành quả của Luật Doanh nghiệp mai một dần mà còn tạo ra những cơ chế quyền lực xin - cho rất tai hại.

Theo luật gia Khoát, bộ luật gây ra sự chồng lấn nhiều nhất là Luật Đầu tư nên sớm được bãi bỏ. “Lúc này, chỉ còn lại một vấn đề là cam kết với WTO thì chúng ta cứ theo lộ trình mà thực hiện. Nếu mở cửa thì ta cho “đẻ” theo Luật Doanh nghiệp, còn chưa mở thì thôi, không được “đẻ”. Việc gì cứ bắt doanh nghiệp phải làm thủ tục đầu tư một cách khổ sở, dấm dúi như vậy?!”, ông Khoát đề nghị.

Mặt khác, khi hợp nhất các luật thành Luật Doanh nghiệp chung là nhằm tạo một sân chơi thống nhất, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Thế nhưng, trên thực tế do sự chồng lấn của Luật Đầu tư mục tiêu này đã không đạt được. Sự phân biệt giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn còn rất lớn.

Và ngay cả giữa các doanh nghiệp trong nước, theo chuyên gia Phạm Chi Lan, cũng có những khoảng cách đáng báo động. Đó là việc nổi lên các nhóm lợi ích từ các tập đoàn kinh tế nhà nước và một số tập đoàn kinh tế tư nhân. “Những nhóm lợi ích này tìm cách bắt tay với những người có quyền có chức để thiết kế chính sách sao cho có lợi cho họ. Cạnh tranh trên thị trường vì thế càng trở nên bất bình đẳng trầm trọng”, bà Lan phát biểu.

Cần có chế tài thực hiện cam kết góp vốn

Các quy định khác nhau về vốn điều lệ trong Luật Doanh nghiệp (DN) và Nghị định 102/2010 đang là những sơ hở dễ bị lợi dụng lừa nhà đầu tư. Luật DN thì quy định vốn điều lệ là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào điều lệ công ty. Nhưng Nghị định 102 lại quy định vốn điều lệ của công ty cổ phần là tổng giá trị mệnh giá số cổ phần đã phát hành; số cổ phần này phải được thanh toán đủ trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Mặc dù Luật DN không hạn chế thời gian các thành viên công ty TNHH được cam kết góp vốn nhưng Nghị định 102 quy định cho công ty TNHH thời hạn không quá 36 tháng phải góp đủ số vốn đã cam kết, kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Vì quy định này mà hầu hết các công ty TNHH khai vốn thoải mái vì không có hạn chế nào khi làm thủ tục thành lập doanh nghiệp.

Thực tế đã có nhiều trường hợp lợi dụng quy định này để lừa bên thứ ba nhờ cam kết một nguồn vốn ảo rất lớn nhưng không hề có khả năng bảo đảm trên thực tế. Vì vậy, đồng thời với việc tạo điều kiện cho các nhà đầu tư thỏa thuận hợp tác, góp vốn thành lập công ty TNHH, Luật DN cần có chế tài buộc các nhà đầu tư phải công khai và thực hiện đúng các cam kết góp vốn để bảo vệ quyền lợi cho chủ nợ, khách hàng và các nhà đầu tư khác

Tra Cứu Thông Tin

tracuu
masothue
kd

Hỗ Trợ Trực Tuyến

        
 Phòng Tư Vấn            Phòng Kế Toán
  lienhe

  diadiem
Click tại đây để biết địa điểm chỉnh xác

Liên kết Website Doanh nghiệp

Thông Tin Thị Trường